DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,124,284

TRẦN YÊN HÒA - Phan Nhự Thức và Quán Quảng Nam

Friday, September 13, 20192:55 PM(View: 295)
TRẦN YÊN HÒA - Phan Nhự Thức và Quán Quảng Nam

Phan Nhự Thức và
Quán Quảng Nam

 

blank
     Nhà thơ Phan Nhự Thức
    (4-2-1942 - 21-1-1996)
Quán ở phía bên trái rạp chiếu bóng Đại Lợi, trên đường Phạm Văn Hai (Thoại Ngọc Hầu cũ) coi như bên cánh gà của rạp chiếu bóng, gần sát ngay trại giam cùng tên Đại Lợi, trại tạm giam của công an quận Tân Bình, giam đủ hạng người, từ hình sự đến chính trị phạm, cho nên lúc nào cũng có bóng dáng công an áo vàng, đi qua đi lại.

Phan Như Thức đã thuê mặt bằng nầy để mở tiệm bán bún bò Huế là chính, và các món nhậu lai rai. Chị Thu, vợ Phan Như Thức, từ một cô gái có sạp bán áo quần trong chợ Tân Bình, từ ngày kết tóc se tơ cùng nhà thơ, làm kẻ nâng khăn sửa túi cho Phan Như Thức, tôi thấy chị Thu xuống cấp lần lần, người càng ngày càng gầy đi, tóc khô và đã có những sợi bạc, dù chị còn rất trẻ, tôi nghĩ khoảng trên ba mươi tuổi là cùng. Phan Nhự Thức thì khỏi nói, người ốm lêu nghêu, tóc vàng cháy nắng, hàm răng đã rụng gần hết nên anh rất ít khi cười.

Hai vợ chồng đã trải qua nhiều chuyện làm ăn nhưng không lần nào trụ lại được lâu. Lần trước, cũng trên con đường này, trong con hẻm lớn trước chợ Phạm Văn Hai, hai vợ chồng đã dựng tiệm bán cà phê. Nói là tiệm cho ra vẻ chứ thật ra là quán cà phê vỉa hè, bạn bè văn nghệ tới uống giúp đỡ, nhưng chỉ được có thời gian đầu, sau đó thì vì cuộc sống ai cũng phải bon chen đi kiếm ăn, nên quán từ từ ế và đi đến chỗ dẹp tiệm. Hãy thử tưởng tượng, với một chiếc xe đạp cà khổ, mỗi buổi sáng Phan Như Thức phải dậy sớm để lo chở vợ đi dọn hàng với đủ mọi thứ lỉnh kỉnh như nồi niêu, soong, chảo, than củi, các vật dụng linh tinh, khoảng cách từ nhà đến chổ bán cà phê cũng hơn 10 cây số, chiều về cũng vậy, mà đâu có kiếm được bao nhiêu tiền.

blank
  Thư Quán Bản Thảo tập 27,
  năm thứ 6, tháng 4-2007
Chủ đề: Nhà thơ Phan Nhự Thức
Bẵng đi một thời gian tôi không gặp Phan Như Thức và cứ nghĩ là anh chắc có công chuyện làm ăn nào rồi nên anh không ghé lại chỗ sạp bán phụ tùng xe đạp của tôi uống cà phê. Bỗng một buổi sáng Hà Nguyên Thạch dừng xe đạp lại nhắn với tôi: "Phan Như Thức mới mở quán bán bún bò tại gần rạp Đại Lợi, tối nay anh em tới nhậu ủng hộ nghe". Tôi gật đầu, hỏi kỹ địa chỉ và hứa buổi tối sẽ tới.

Đám bằng hữu văn nghệ như Hà nguyên Thạch, Phan Nhự Thức, Nghiêu Đề, Trần Hoài Thư... đối với tôi là đàn anh, bởi vì khi các anh Thái Tú Hạp, Luân Hoán, Thành Tôn, Phan Như Thức, Hà Nguyên Thạch, Trần Hoài Thư... đã có một số thơ đăng ở các tập san Sài Gòn, thì tôi mới chập chững viết. Tôi nhớ lại, khoảng năm 1966, tôi được đổi về làm giáo sư dạy giờ tại trường Trung học Mộ Đức, Quảng Ngãi, cứ mỗi thứ bảy chủ nhật, tôi thường về tỉnh lỵ chơi. Đài phát thanh Quảng Ngãi lúc này do nhà văn Đường Thiên Lý làm giám đốc, nên sinh hoạt văn nghệ xứ nầy rất nổi đình nổi đám, luôn luôn có chương trình của Minh Đường, giới thiệu các tác phẩm của các bạn văn nghệ nầy.

Tại Mộ Đức, tôi có quen với anh Lê Văn Thí, là giáo viên tiểu học, tốt nghiệp sư phạm Quy Nhơn. Anh Lê Văn Thí người Quảng Nam, trông rất chất phác, nhưng anh hát hay và làm thơ rất tuyệt, bút hiệu là Xuân Thao. Xuân Thao nói anh có viết tờ Trước-Mặt, Cùng Khổ, và hay sinh hoạt với các bạn Quảng Ngãi, Xuân Thao hứa khi nào về thị xã, sẽ dẫn tôi tham dự.

Một lần về thị xã, Xuân Thao dẫn tôi đến chổ Khách sạn Việt Nam, nói sắp có cuộc họp của các bạn văn nghệ ở đó để chuẩn bị ra một đặc san nhân dịp Tết sắp tới. 

Tại đây tôi đã "thấy" được các bạn văn nghệ Quảng Ngãi một thời, như Khắc Minh, Đinh Hoàng Sa, Vương Thanh, Nghiêu Đề, Phan Như Thức, Hà nguyên Thạch, Minh Đường. (Nghiêu Đề từ Sài Gòn ra làm Xây Dựng Nông Thôn, dù quê Nghiêu Đề ở Quảng Ngãi, nhưng anh đã vào SG sinh sống đã lâu, anh có chân trong Hội Họa Sĩ Trẻ, đã tham dự triển lãm tranh nhiều lần, đã đoạt huy chương bạc và có in tập truyện ngắn Sợi Tóc Trăm Năm). Sau nầy, quen thân với Nghiêu Đề, tôi biết anh là người rất vui tính, không quan trọng bất cứ một chuyện gì, cách nói chuyện của anh có một cách rất riêng, rất hóm hỉnh, anh nói giọng nghe như "tưng tửng" nhưng sâu sắc, bất cứ chuyện gì anh nói chuyện cũng có thể cười được.

Cuộc họp rất vui, cuối cùng của cuộc họp bỏ túi hôm đó là sẽ tiến hành ra một Đặc San Tết. Nhan đề của Đặc San là "Người Ngồi Đội Mũ" đây là ý kiến của Nghiêu Đề. Tôi không hiểu rõ lắm ý nghĩa của bốn chữ trên liên quan gì đến chủ đích của Đặc San và không biết đặc san đó sau này có được thực hiện và trình làng không? Vì tiếp đến là trận Mậu Thân tàn khốc, tôi không còn dạy ở Quảng Ngãi nữa mà đổi ra trường Lý Tín, Quảng Tín. Từ đó tôi cũng lạc mất người bạn văn nghệ rất là yêu qúy của tôi là Xuân Thao. Xuân Thao bây giờ ở đâu, ai biết??. Thời gian đó, Phan Như Thức đã có tập thơ "Đốt tuổi" và Hà Nguyên Thạch có tập "Chân cầu sóng vỗ".

Sau nầy nghe tin các bạn Văn nghệ Quảng Ngãi "rất lên" được tỉnh trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng là Đại Tá Lê Bá Khiếu chiếu cố đặc biệt, vì các bạn rất có khả năng và nhiệt huyết nên Phan Như Thức cùng Vương Thanh đắc cử Hội Đồng Nhân dân tỉnh, Hà Nguyên Thạch làm phó cơ sở học chính tỉnh (nhưng coi như là trưởng cơ sở vì người trưởng cơ sở đã già). Sau đó các anh cùng thành lập Quảng Ngãi Nghĩa Thục, cũng gây rất nhiều tiếng vang. Nhờ Phan Như Thức đã cộng tác với nhóm Sóng Thần của Chu Tử cho nên sau nầy Chu Từ gả con gái nuôi cho Phan Như Thức, chuyện vợ chồng này kết thúc khi anh đi cải tạo tập trung.

Như vậy là trước ngày 30-4-75 các bạn văn nghệ này tôi chỉ biết chứ không quen, mãi đến sau này, khi tôi đi tù về và mở sạp hàng bán phụ tùng xe đạp tại ngã ba đường Nguyễn Huỳnh Đức và Huỳnh Quang Tiên, thuộc phường 14, Phú Nhuận, tôi mới có dịp quen với các anh. Nơi đây là nhà của anh Trần Thanh Ngọc, bạn cùng khoá 2 ĐH/CTCT/Đà lạt với tôi. Ngọc rất tốt với bạn bè, nhất là đối với các bạn văn nghệ, nên nhà nầy coi như là nơi tụ hội các bạn những lúc khốn cùng, có thể đến đây tá túc một vài ngày, một tuần hay nửa tháng, cơm nước đàng hoàng, tôi khi ra tù về cũng đã có một thời như thế. Các anh Phan Như Thức, Hà Nguyên Thạch, Trần Tuấn Kiệt thường tá túc ở đây nên tôi quen và trở thành thân thiết.


                                                         *


Buổi tối đầu tiên của đêm khai trương quán bún bò của vợ chồng Phan nhự Thức có: Trần Yên Hoà, Trần Thế Phong, Phan Lạc Giang Đông, Phổ Đức, Hà Nguyên Thạch, Lê Mai Lĩnh (lúc đó còn lấy tên là Sương Biên Thuỳ) Ngô Đình Long (ngâm thơ), Trần Thanh Ngọc, Lương Văn Khiêm, Phan Như Thức. Để buổi khai trương cho thêm rôm rả, chúng tôi uống bia "con cọp" và ăn khô cá thiều. Ôi! Bia lên men con cọp là một loại bia tồi tàn và độc hại nhất, chỉ có nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam mới cho phép sản xuất thôi, nhưng chúng tôi đang cần say để đọc thơ và nói chuyện, Phổ Đức nói giọng Quảng Nam quê mùa nhưng hiền lành, Phan Lạc Giang Đông giọng Bắc hào sảng, Lê Mai Lĩnh giọng Quảng Trị ngùn ngụt khí thế, Hà Nguyên Thạch giọng Đà Nẵng đọc thơ thật có hồn và truyền cảm, Trần Thế Phong bình dị chững chạc. Chúng tôi sinh hoạt đến khuya, buổi khai trương đầu tiên tuy rôm rả thật nhưng chắc vợ chồng Phan Nhự Thức chẳng thu được bao nhiêu tiền lời, thấy bọn tôi ngồi ăn to nói lớn và uống bia bạt mạng như vậy có khách nào dám vào ăn uống.

Sau khi bia "dỏm" vào, lời ra, Phan Lạc Giang Đông lên giọng đề nghị: "Để chúng ta thường xuyên gặp nhau, vừa giúp đỡ vợ chồng Phan Như Thức luôn luôn "có khách" tôi đề nghị chúng ta cứ mỗi thứ năm, lại gặp nhau một lần ở đây và từng hai người một, bắt cặp nhau để lo cho bữa nhậu, dĩ nhiên tùy theo khả năng từng người". Lời đề nghị được anh em tán đồng và chia nhau bắt cặp. Nhìn lại trong đám bạn bè thân hữu đến quán toàn là dân Quảng Nam cả, nên tôi đặt tên là Quán Quảng Nam và được nhiều bạn đồng ý.
(Cung Tích Biền, Huy Tưởng, Thành Tôn, Đông Trình (người Huế nhưng ở Đà Nẵng), Đinh Trầm Ca, Hà Nguyên Dũng, Hoàng Lộc, đều cũng là dân Quảng Nam, là những người đến sau và đã tham dự).

Tôi đã được những đêm say túy lúy với bia con cọp, mồi khô cá đuối, khô sặt, sang hơn thì khô mực hay xí quách xương bò, cùng đọc thơ, cùng hát. Đinh Trầm Ca hát quá hay, Ngô Đình Long ngâm thơ tuyệt vời và ai cũng đọc thơ mình vừa mới làm ra, có những lần khi dắt xe đạp ra khỏi quán, trời đã về khuya, rạp chiếu bóng đã vãn từ lâu, trong cơn say ngất ngưỡng, mình thấy đời thật thênh thang. Nhìn lại thấy mình cô đơn quá đỗi, quay lại nhìn quán vắng, vợ chồng Phan Nhự Thức đang loay hoay dọn dẹp bàn ghế, Hà Nguyên Thạch cũng dắt xe ra đạp đi chệnh choạng, mà không biết đi về đâu, tôi biết Hà Nguyên Thạch là kiếp không nhà mà. Ơi! những kẻ làm thơ sao buồn quá đỗi.

Có một điểm son trong giai đoạn này là Phổ Đức đã làm được một buổi tưởng niệm và đọc thơ Hồ Dzếnh, nhân ngày Hồ Dzếnh mất. Anh đã tìm tài liệu trong những tờ "Nhân Chứng" do anh chủ trương từ trước bảy lăm, viết lại về Hồ Dzếnh. Ít ra, khi một người làm thơ nằm xuống thì những người làm thơ khác (hay nhân loại) biết, để cúi đầu tưởng niệm, đó cũng là một an ủi vô cùng.

Những lúc quá hứng đọc thơ và hát nhạc, tụi tôi quên bẵng đi quán này nằm sát gần với trại giam, quên hẳn bóng áo vàng của công an vẫn đi qua đi lại, nhất là Lê Mai Lĩnh đọc những bài "thơ tù" của anh đầy chất phản kháng và chống đối chế độ, hay Định Trầm Ca hát những bản nhạc của anh không được cho phép phổ biến, Phan Lạc Giang Đông với những giòng thơ đấu tranh và thời sự.

Phan nhự Thức rất hiền và chìu anh em nên để cho bạn bè uống quá say. Uống say nói bậy và hay to tiếng là Hà Nguyên Thạch, Phan Lạc Giang Đông, nên có những lúc tưởng chừng như có đánh nhau đến nơi, dĩ nhiên xô bàn, xô ghế, hất đồ ăn xuống đất đã xảy ra nhiều lần, làm cho chủ nhân Phan Như Thức cùng vợ dọn dẹp mệt nghỉ. Bạn bè tới ăn uống ủng hộ không biết lợi lộc bao nhiêu, chứ tôi thấy càng ngày Phan Như Thức càng cạn vốn, đến một hôm quán Quảng Nam phải gở bảng và dẹp tiệm.

Trước ngày dẹp tiệm, buổi tối sau cùng anh em gặp mặt nhau để hôm sau "tan hàng cố gắng", Phố Đức đã làm một bài thơ dài, kể đủ tên của các bạn đã tham dự ở quán Quảng Nam, có thêm tên của các bạn gái tháp tùng đến họp mặt. Bài thơ dài như sớ táo quân được Phổ Đức đọc cho toàn thể anh em nghe, nghe xong ai cũng bùi ngùi cảm động, nhưng sau có vài ý kiến là nếu phổ biến bài thơ đó thì không tiện vì nếu công an được thì sẽ nghi ngờ anh em có ý đồ nhen nhúm gì đây, nên đề nghị với Phổ Đức nên chỉ giữ bản thảo.

Sau khi quán Quảng Nam đóng cửa, Phan Như Thức còn mở quán ăn vài lần nữa, đến ngày tôi đi Mỹ. Vợ chồng anh vẫn còn bán quán cơm ở khu phường 6, quận Tân Bình.

Trước khi đi Mỹ, tôi làm tiệc giã biệt bạn bè ở nhà hàng Rạng Đông. Tôi đến mời Phan Như Thức và nhờ Phan Như Thức kiếm mời dùm tôi Đinh Trầm Ca, tôi muốn có Phan Như Thức đọc thơ và Đinh Trầm Ca hát. Tôi vốn mê cái giọng sang sảng của Phan Như Thức khi đọc thơ và giọng hát khàn khàn của Đinh Trầm Ca, nhưng hôm đó chỉ có Phan Như Thức tới, anh bảo: "Có đi tìm Định Trầm Ca nhưng không gặp được người nhạc sĩ lảng tử nầy".

Hôm đó, tôi thấy anh rất mệt mỏi và tàn tạ, nhưng tôi không ngờ chứng bệnh ung thư đang hoành hành anh, anh và tôi đều không biết, anh cụng ly với tôi và anh đọc thơ tặng tôi, 2 bài, là "Thơ tình trong trại cải tạo""Cõi tình xuân" của anh, anh đọc có một số đoạn quên phải đọc lại, nhưng giọng đọc vẫn hào sảng, đó là hình ảnh cuối cùng tôi có với Phan Như Thức.

Tiệc chưa xong, anh đã chào tôi ra về với lý do đường về nhà anh quá xa, tuốt trên miệt Tham Lương, Tân Bình. Anh chúc gia đình tôi đi bình yên, tôi bắt tay anh, nói mong gặp anh sớm tại Mỹ. Anh rất bi quan về chuyện xuất cảnh cuả mình, anh đi "tập trung cải tạo" sau lệnh kêu gọi tập trung của chính quyền Cộng Sản, nên khi vào phỏng vấn hồ sơ anh bị phái đoàn Mỹ không chấp nhận, anh đang khiếu nại.
Buổi tối hôm đó khoảng 9 giờ, anh phải chạy từ ngã sáu Sài Gòn về đến Tham Lương, đoạn đường thật xa diệu vợi, tôi nghĩ và rất thương anh. (hiện tôi vẫn còn tape video quay cảnh anh đọc thơ, tôi nghĩ sẽ trao lại cho chị Thức hình ảnh này khi có dịp gặp lại chị).

Tôi qua Mỹ tháng 3/95. Đến tháng 11, Trần Thế Phong định cư ở WA state. Trần Thế Phong điện thoại qua cho tôi báo tin Phan Như Thức bị ung thư nguy ngập, chỉ nằm một chỗ, bên giường bệnh để sẵn cuốn sổ, bạn bè thân hữu đến thăm thì "bút đàm" với Thức, và cuốn họng Thức bị sưng, đau nhức không thể nói chuyện được. Trang đầu cuốn sổ, ghi bốn câu thơ của Thức như sau:

Dẫu một lời thăm ai vừa thắp sáng.
Đã là viên thần dược dịu cơn đau.
Dẫu cơn bệnh nhói lên thân hữu hạn.
Một niềm vui thoáng gió cũng in sâu.

Trần Thế Phong nhờ tôi kêu gọi anh em văn nghệ hải ngoại giúp đỡ kèm theo thư của Trần Thanh Ngọc và Đinh Trầm Ca viết về bệnh tình Thức.

Lúc đó, tôi là người mới qua, lại ở một tiểu bang lạnh xa xôi, không biết làm cách nào, tôi bèn gởi hết hai lá thư về cho Khánh Trường ở tờ Hợp Lưu. Tuần sau, tôi được một bức thư cuả Khánh Trường, đại khái Khánh Trường viết là "cái tình ở xứ Mỹ nầy nó nhạt lắm", nhưng anh sẽ cố gắng, cá nhân anh giúp được chút nào hay chút đó. Tôi cũng có gọi điện thoại cho Nghiêu Đề nhưng gọi hoài không được.

Tôi biết Nghiêu Đề rất có nhiệt tâm với anh em văn nghệ còn lại trong nước. Trong chuyến về Việt Nam thăm người Mẹ khoảng năm 1994, Nghiêu Đề đã dốc hết số tiền đem về ít ỏi cho Phan Như Thức và Trần Tuấn Kiệt. Với nhà thơ Trần Tuấn Kiệt, khi cùng ngồi uống cà phê ở quán cóc gần "đình ông Súng", Trần Tuấn Kiệt có cái bịnh là mỗi ngày phải uống một chai bia BGI lớn chứ không thì bị đau đầu kinh khủng. Trong thời gian Nghiêu Đề về, Nghiêu Đề luôn luôn đài thọ cho Trần Tuấn Kiệt khoảng bia này.

Ngày 21-01/96, tôi được tin Phan Như Thức mất.

Khi viết đến những dòng nầy, tôi vừa nghe tin từ đài phát thanh VNCR, báo tin Nghiêu Đề đã mất ngày hôm qua (6 giờ 30 chiều ngày 9/11/98 tại San Diego cũng vì bịnh ung thư!!). Lại thêm một người bạn văn nghệ vĩnh biệt chúng ta

Bài này như là một nén hương muộn màng thắp tiếc thương hai bạn.



                                                                                     Trần Yên Hòa
                                                                                                                                                                                           (đăng lại từ: hocxa.com)

                                                                                                                     Xin ghi thêm:

-  Bài này trước đây đã đăng trên Thư Quán Bản Thảo số 27, trang 80 là: "cuối tháng 11 năm 1995, tôi nghe tin PNT mất", nhưng thực sự đúng là anh mất ngày 21/1/1996, xin đính chính lại cho đúng. Cảm ơn nhà văn Trần Văn Phê, chủ biên Web: hocxa.com, đã cho biết.
- Bài này viết vào những năm 1998, nay có những bạn đã mất: Phổ Đức, Ngô Đình Long, Phan Lạc Giang Đông.
- Xuân Thao sau này tôi có liên lạc được qua Fb và emails, hiện anh sống ở Đà Nẵng.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, October 1, 20193:55 PM(View: 98)
Tất nhiên trước khi đọc “Ngày tôi đưa tang mình” tôi biết mình không thể đòi hỏi ở Kim Ngân những trang viết triết luận về những tư tưởng triết học hay tôn giáo về lẽ tử sinh
Friday, September 27, 20197:07 AM(View: 91)
"Không được, phải là chuối cây xắt mỏng". Đã vậy ổng còn rơm rớm nghèn nghẹn "món đó hồi xưa Má tui làm ngon lắm!"
Tuesday, September 24, 20193:08 PM(View: 74)
Trần Bích San nêu rõ tâm nguyện khi chấp bút nơi trang 25 sách Văn học Việt Nam : “Sách này được soạn thảo với mục đích bảo tồn sự trung thực của lịch sử văn học Việt Nam.“ Như vậy, khác hẳn các nhà nghiên cứu văn học sử tiền bối, Trần Bích San không những là một người biên khảo văn học
Monday, September 16, 20193:43 PM(View: 159)
Ông An Chi đã nhầm lẫn ngay cả trong tiếng Việt khi nói “Cái mà trong Nam gọi là tàu thì ngoài Bắc gọi là thuyền
Thursday, September 5, 20198:05 PM(View: 264)
Ngày bố tôi mất, tôi lên 6 tuổi, em kế tôi 3 tuổi và em út mới sanh được 3 ngày.